Sáng kiến kinh nghiệm: Một số biện pháp phụ đạo học sinh yếu môn Toán lớp 4 - Phạm Thị Giang
Bạn đang xem tài liệu "Sáng kiến kinh nghiệm: Một số biện pháp phụ đạo học sinh yếu môn Toán lớp 4 - Phạm Thị Giang", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.
File đính kèm:
sang_kien_kinh_nghiem_mot_so_bien_phap_phu_dao_hoc_sinh_yeu.doc
Nội dung tài liệu: Sáng kiến kinh nghiệm: Một số biện pháp phụ đạo học sinh yếu môn Toán lớp 4 - Phạm Thị Giang
- 1 BẢN MÔ TẢ SÁNG KIẾN I. THÔNG TIN CHUNG VỀ SÁNG KIẾN 1. Tên sáng kiến: “Một số biện pháp phụ đạo học sinh yếu môn Toán lớp 4” 2. Lĩnh vực áp dụng sáng kiến: Dạy học môn Toán 4. 3. Tác giả: Họ và tên: Phạm Thị Giang Ngày tháng / năm sinh: 16/06/1977 Chức vụ, đơn vị công tác: Giáo viên – Trường Tiểu học Minh Đức. Điện thoại: 093 682 3819 4. Đơn vị áp dụng sáng kiến: Tên đơn vị: Trường Tiểu học Minh Đức. Địa chỉ: Khu 1- Thị trấn Tiên Lãng, huyện Tiên Lãng,TP Hải Phòng. Điện thoại: 02253683166 II. Mô tả giải pháp đã biết: Môn toán góp phần rất quan trọng trong việc rèn luyện phương pháp suy luận, phương pháp suy nghỉ, phương pháp giải quyết có vấn đề. Nó góp phần phát triển trí thông minh, cách suy nghĩ độc lập, linh hoạt sáng tạo và đóng góp vào việc hình thành các phẩm chất cần thiết, quan trọng của người lao động như : cần cù, cẩn thận, có ý chí vượt khó khăn, làm việc có kế hoạch, có nề nếp và tác phong khoa học. Mỗi học sinh là một cá thể riêng biệt, các em khác nhau về ngoại hình, tính cách và cả khả năng nhận thức trong học tập. Có học sinh tiếp thu bài học rất nhanh, nhưng cũng có những em tiếp thu bài rất chậm, thậm chí là không hiểu gì thông qua các hoạt động trên lớp . Vậy là một giáo viên thì ta phải làm gì đối với những học sinh yếu, kém về tiếp thu này ? Đó chính là vấn đề mà tôi rất quan tâm và nó luôn thôi thúc tôi trong suốt quá trình dạy học . Thật may mắn cho tôi, qua nhiều năm được phân công giảng dạy và làm công tác chủ nhiệm khối lớp 4 đó là điều kiện tốt nhất giúp tôi tìm hiểu rõ về đặc điểm tâm sinh lí của lứa tuổi và đề ra các biện pháp giáo dục thích hợp để
- 2 rèn cho những em học sinh yếu có thể nắm được bài học và hoà nhập vào hoạt động học trên lớp cùng các bạn. Đối với lớp 4, khối lượng kiến thức mà các em phải tiếp thu lớn, các em lại không có thói quen tự học ở nhà, cha mẹ cũng không thể hướng dẫn cho con em học vì nhiều lý do. Bên cạnh đó có học sinh yếu kém do chưa nhận thức đúng mục đích, động cơ học tập, .Chính vì vậy tôi mạnh dạn đưa ra một số giải pháp mà tôi đã đúc rút được qua nhiều năm giảng dạy với sáng kiến kinh nghiệm "Một số biện pháp phụ đạo học sinh yếu môn Toán lớp 4" 1. Ưu điểm Giúp học sinh yếu tiến bộ một cách bền vững, không chỉ cải thiện điểm số mà còn nâng cao sự tự tin. Phương pháp dễ thực hiện, có thể áp dụng linh hoạt với từng đối tượng học sinh. Tăng cường mối liên kết giữa giáo viên, học sinh và phụ huynh trong việc hỗ trợ học tập. Góp phần nâng cao chất lượng giảng dạy chung của lớp học. 2. Tồn tại Một số học sinh vẫn còn chậm tiến bộ do thiếu sự hỗ trợ từ gia đình. Việc tổ chức phụ đạo đôi khi gặp khó khăn do lịch học dày đặc. Cần nhiều thời gian hơn để đánh giá và điều chỉnh phương pháp giảng dạy cho từng đối tượng học sinh. Qua khảo sát chất lượng đầu năm của lớp 4 A cho thấy: học sinh yếu kém môn toán là khá cao. Song làm thế nào để không còn học sinh yếu kém, không còn học sinh bỏ học vì không đuổi kịp kiến thức lại là một bài Toán hết sức nan giải. Tôi trăn trở là tìm ra con đường để vực dậy số học sinh yếu kém giúp các em theo kịp với chương trình để từng bước xoá bỏ tỷ lệ học sinh bỏ học giữa chừng. Năm học 2024-2025 tôi đã được phân công chủ nhiệm lớp 4A với tổng số là 36 học sinh, trong đó số lượng học sinh tính toán chậm, còn sai sót là khá cao. Điều đó đã thôi thúc tôi tìm tòi, nghiên cứu viết nên sáng kiến kinh nghiệm này để đưa ra những giải pháp tốt nhất giúp các em có kiến thức cơ bản về môn Toán để theo kịp chương trình làm tiền đề cho việc tiếp thu kiến thức ở các lớp sau. III. Nội dung giải pháp đề nghị công nhận sáng kiến
- 3 III.1. Nội dung giải pháp đề nghị công nhận sáng kiến 1. Xây dựng môi trường học tập thân thiện: Sự thân thiện của giáo viên là điều kiện cần để những biện pháp đạt hiệu quả cao. Thông qua cử chỉ, lời nói, ánh mắt, nụ cười giáo viên tạo sự gần gũi, cảm giác an toàn nơi học sinh để các em bày tỏ những khó khăn trong học tập, trong cuộc sống của bản thân mình. Giáo viên luôn tạo cho bầu không khí lớp học thoải mái, nhẹ nhàng, không đánh mắng hoặc dùng lời thiếu tôn trọng với các em, đừng để cho học sinh cảm thấy sợ giáo viên mà hãy làm cho học sinh thương yêu và tôn trọng mình. Bên cạnh đó, giáo viên phải là người đem lại cho các em những phản hồi tích cực. Ví dụ như giáo viên nên thay chê bai bằng khen ngợi, giáo viên tìm những việc làm mà em hoàn thành dù là những việc nhỏ để khen ngợi các em. 2. Phân loại các đối tượng học sinh Giáo viên cần xem xét, phân loại những học sinh yếu đúng với những đặc điểm vốn có của các em để lựa chọn biện pháp giúp đỡ phù hợp với đặc điểm chung và riêng của từng em. Một số khả năng thường hay gặp ở các em là: Sức khoẻ kém, khả năng tiếp thu bài chậm, lười học, thiếu tự tin, nhút nhát Trong thực tế người ta nhận thấy có bao nhiêu cá thể thì sẽ có chừng ấy phong cách nhận thức. Vì vậy hiểu biết về phong cách nhận thức là để hiểu sự đa dạng của các chức năng trí tuệ giúp cho việc tổ chức các hoạt động sư phạm thông qua đặc trưng này. Trong quá trình dạy học trên lớp, giáo viên quan tâm phát hiện và phân loại những lỗ hổng kiến thức, kĩ năng của học sinh. Những lỗ hổng nào điển hình mà trên lớp chưa đủ thời gian khắc phục thì cần có kế hoạch tiếp tục giải quyết trong nhóm học sinh yếu kém. Thông qua quá trình học lý thuyết và làm bài tập của học sinh, giáo viên cũng cần tập cho học sinh, kể cả học sinh yếu kém có ý thức tự phát hiện những lỗ hổng của bản thân mình và biết cách tự lấp những lỗ hổng đó. Trong quá trình thiết kế bài học, giáo viên cần cân nhắc các mục tiêu đề ra nhằm tạo điều kiện cho các em học sinh yếu được củng cố và luyện tập phù hợp. Ví dụ khi học bài: Giải toán về tìm số trung bình cộng (Toán–lớp 4 ), đối
- 4 với các em học sinh yếu thì các em chỉ cần nắm bài toán cụ thể áp dụng trực tiếp quy tắc. Trong dạy học cần phân hóa đối tượng học tập trong từng hoạt động, dành cho đối tượng này những câu hỏi dễ, những bài tập đơn giản để tạo điều kiện cho các em được tham gia trình bày trước lớp, từng bước giúp các em tìm được vị trí đích thực của mình trong tập thể. Yêu cầu luyện tập của một tiết là 4 bài tập, các em này có thể hoàn thành 1, 2 hoặc 3 bài tuỳ theo khả năng của các em.. Đối với học sinh yếu , giáo viên nên coi trọng tính vững chắc của kiến thức, kĩ năng hơn là chạy theo mục tiêu đề cao, mở rộng kiến thức và tăng cường luyện tập vừa sức. Trong những tiết học đồng loạt, việc luyện tập được thực hiện theo trình độ chung, nhiều khi không phù hợp với khả năng học sinh yếu . Vì vậy khi làm việc riêng với nhóm học sinh yếu , cần dành thời gian để các em tăng cường luyện tập vừa sức mình. 3. Giáo dục ý thức học tập cho học sinh: Giáo viên phải giáo dục ý thức học tập của học sinh tạo cho học sinh sự hứng thú trong học tập, từ đó sẽ giúp cho học sinh có ý thức vươn lên. Trong mỗi tiết dạy giáo viên nên liên hệ nhiều kiến thức vào thực tế để học sinh thấy được ứng dụng và tầm quan trọng của môn học trong thực tiễn. Từ đây, các em sẽ ham thích và say mê khám phá tìm tòi trong việc chiếm lĩnh tri thức. Bên cạnh đó, giáo viên phải tìm hiểu từng đối tượng học sinh về hoàn cảnh gia đình và nề nếp sinh hoạt, khuyên nhủ học sinh về thái độ học tập, tổ chức các trò chơi có lồng ghép việc giáo dục học sinh về ý thức học tập tốt và ý thức vươn lên trong học tập, làm cho học sinh thấy tầm quan trọng của việc học. Đồng thời, giáo viên phối hợp với gia đình giáo dục ý thức học tập của học sinh. Do hiện nay, có một số phụ huynh luôn gò ép việc học của con em mình, sự áp đặt và quá tải sẽ dẫn đến chất lượng không cao. Bản thân giáo viên cần phân tích để các bậc phụ huynh thể hiện sự quan tâm đúng mức. Nhận được sự quan tâm của gia đình, thầy cô sẽ tạo động lực cho các em ý chí phấn đấu vươn lên. 4. Kèm cặp học sinh yếu:
- 5 Ngay từ đầu năm giáo viên phải khảo sát chất lượng để biết số lượng học sinh yếu, trung bình, khá giỏi là bao nhiêu để có kế hoạch phụ đạo. Xây dựng chương trình : Đôi bạn cùng tiến. Phân công một em học sinh khá, giỏi kèm cặp, giúp đỡ một em học sinh yếu. Lập danh sách học sinh yếu và chú ý quan tâm đặc biệt đến những học sinh này trong mỗi tiết dạy như thường xuyên gọi các em đó trả lời câu hỏi, khen ngợi các em đó khi các em trả lời đúng, 4.1.Tạo tiền đề xuất phát Việc học tập có kết quả trong một tiết học thường đòi hỏi những tiền đề nhất định về trình độ kiến thức, kĩ năng sẵn có của học sinh. Thế nhưng các em yếu kém nhiều khi chưa có đủ những tiền đề này. Một trong những nội dung làm việc với các học sinh yếu, kém là phải giúp các em tạo tiền đề xuất phát cho những tiết lên lớp. Việc tạo tiền đề xuất phát thường được tiến hành theo quy trình sau: - Trước hết, bản thân GV phải nắm vững nội dung và khối lượng kiến thức, kĩ năng cần có trong những tiền đề xuất phát. Muốn vậy điều quan trọng là cần nghiên cứu sâu sắc những tài liệu chỉ đạo của Bộ, Sở, Phòng Giáo dục ; chuẩn kiến thức kĩ năng, SGK, sách GV - Thứ hai, GV cần biết những kiến thức kĩ năng cần thiết đã có sẵn ở các HS yếu, kém tới mức độ nào. Điều này có thể được thực hiện nhờ quá trình theo dõi từ trước hoặc bằng biện pháp kiểm tra. - Thứ ba là cho tái hiện những kiến thức và kĩ năng cần thiết, tức là GV cho HS ôn tập trước khi dạy nội dung mới hoặc ôn tập những lúc thích hợp trong mối liên quan với từng nội dung. 4.2.Lấp lỗ hổng kiến thức Như chúng ta đã biết, kiến thức có nhiều lỗ hổng là một bệnh phổ biến của HS yếu kém môn toán. Việc tạo tiền đề xuất phát cũng chính là nhằm lấp lỗ hổng kiến thức và kĩ năng. Vì vậy, trong quá trình dạy học trên lớp, tôi thường quan tâm phát hiện những lỗ hổng kiến thức của HS. Những lỗ hổng nào điển hình đối với HS yếu mà trên lớp chưa đủ thời gian khắc phục thì tôi có kế hoạch tiếp tục giải quyết riêng trong nhóm HS yếu . Thông qua quá trình hình thành kiến thức và rèn luyện kĩ năng của HS, tôi thường tập cho HS, kể cả HS yếu có ý thức tự phát hiện những lỗ hổng của bản thân mình và biết cách tra cứu sách vở, học lại để tự lấp những lỗ hổng đó.
- 6 Ví dụ: Những HS chưa thuộc bảng nhân chia, ngay từ đầu năm học, tôi yêu cầu các em tìm lại SGK lớp 3 để học cho thuộc. Trong lớp bản thân chủ nhiệm có một số em thì hầu như là không biết tính khi học toán. Nguyên nhân thì có rất nhiều, bản thân chỉ xin nêu một số nguyên nhân tiêu biểu: Không nắm được các phép tính cộng, trừ có nhớ, không thuộc bảng nhân, bảng chia. Không nắm được lí thuyết (công thức, quy tắt ). Không nắm được cấu tạo số tự nhiên (hàng, lớp, cách đặt tính) Vậy, đối với những học sinh không biết tính thì giáo viên cần: Hướng dẫn để các em hiểu, cộng có nghĩa là thêm vào, trừ là bớt đi. Khi thực hiện các phép tính cộng, trừ, giáo viên nên sử dụng nhiều hình ảnh trực quan cho các em cầm, nắm, sờ vào và thực hành đếm. Được thực hành nhiều lần, dần dần các em sẽ nhớ và biết cách tính. Ôn lại các hàng, lớp và cách đặt tính số tự nhiên. Giáo viên cho học sinh làm các bài tập từ dễ đến khó, từ đơn giản đến phức tạp. Ban đầu, cho học sinh đặt tính các số có các chữ số thuộc cùng một hàng. Như: Ví dụ: 123 +345 Sau đó, cho học sinh đặt tính các số có các chữ số lệch hàng.: 567 + 89 Để biết đặt tính thì các em phải thuộc tất cả các hàng theo thứ tự từ nhỏ đến lớn hoặc từ lớn đến nhỏ. 4.3.Luyện tập vừa sức Đối với HS yếu, tôi luôn coi trọng tính vững chắc của kiến thức, kĩ năng hơn là chạy theo mục tiêu đề cao, mở rộng kiến thức. Do đó khi hướng dẫn HS luyện tập, tôi luôn đặc biệt chú ý các điều sau: - Đảm bảo cho HS hiểu đề bài: HS yếu nhiều khi vấp ngay từ bước đầu tiên: không hiểu bài toán nói gì, do đó không tiếp tục quá trình giải toán. Vì vậy tôi đã dùng hệ thống câu hỏi gợi mở để giúp HS hiểu rõ đầu bài, nắm được cái gì đã cho, cái gì cần tìm, tạo điều kiện cho các em vượt qua sự vấp váp đầu tiên đó. - Gia tăng số lượng bài tập cùng thể loại và mức độ: Để hiểu một kiến thức, rèn một kĩ năng nào đó, HS kém cần giải những bài tập cùng thể loại và cùng mức độ với số lượng nhiều hơn so với các em khá giỏi và trung bình. Phần gia tăng này thường tiến hành trong các tiết ôn luyện hoặc những buổi phụ đạo riêng với nhóm HS yếu, kém toán. Chẳng hạn, với dạng toán tìm x mà HS hay nhầm lẫn nhất là: a - x = c, x - a = c , tôi đã cho rất nhiều bài tập trong nhiều tiết ôn luyện mà không sợ nhàm như trường hợp HS khá giỏi.
- 7 - Sử dụng những bài tập vừa sức, chủ yếu là cho HS giải các bài tập thuộc dạng cơ bản, tránh ra thêm cho các em những dạng bài tập mới có tính chất mở rộng, nâng cao kiến thức. 4.4.Rèn luyện phương pháp học tập Yếu về phương pháp học tập là một tình hình phổ biến của HS yếu môn toán. Hơn nữa, có thể nói rằng đó là nguyên nhân của tình trạng yếu kém đối với một bộ phận khá đông trong những HS diện này. Vì vậy, một trong những biện pháp khắc phục tình trạng HS yếu là giúp đỡ các em về phương pháp học tập. Với HS yếu tôi thường xuyên hướng dẫn nhắc nhở các em từ những cách thức học toán sơ đẳng như: nắm được kiến thức lí thuyết mới làm bài tập, đọc kĩ đầu bài trước khi làm, vẽ hình hoặc vẽ sơ đồ phải sáng sủa, viết nháp rõ ràng, phát biểu thành câu đủ ý, trình bày bài khoa học, không tẩy xoá, giải toán xong phải kiểm tra lại đáp số và biết thử lại Tạo phong trào thi đua sôi nổi giữa các nhóm, tổ nhằm nâng cao chất lượng học tập, tính đoàn kết, thi đua lành mạnh giữa các nhóm, tăng cường trách nhiệm đối với những bạn nhóm truởng, về chất lưọng học tập của nhóm mình. Tổ chức bình bầu nhóm học tốt vào các tiết sinh hoạt lớp hàng tuần . Khuyến khích các em tự rèn vào vở bài tập đối với các dạng bài thường sai, xem trước bài mới III.2. Tính mới, tính sáng tạo 1.Tính mới: - Phát huy cao nhất năng lực chuyên môn của giáo viên. Giáo viên vận dụng nhiều phương pháp, hình thức dạy học phong phú để thu hút học sinh vào các hoạt động học tập - Trong giảng dạy GV giúp HS phát triển tư duy, khả năng phân tích tổng hợp, khả năng suy luận, giúp HS nắm chắc kiến thức cụ thể. - Tạo môi trường học tập thân thiện giúp học sinh chủ động tiếp thu kiến thức. - Xây dựng ý thức học tập của học sinh tạo cho học sinh sự hứng thú trong học tập, từ đó sẽ giúp cho học sinh có ý thức vươn lên. - Học sinh tích cực, chủ động khám phá nội dung, kiến thức, nâng cao chất lượng học tập.Giúp các em tự tin hơn khi giải quyết một vấn đề. 2. Tính sáng tạo:
- 8 - Kịp thời phát hiện ra những học sinh yếu, kém thông qua các hoạt động học tập cũng như việc làm bài tập hàng ngày của học sinh và làm các bài kiểm tra định kì. - Tìm ra nguyên nhân cùng với những biếu hiện của học sinh yếu kém về môn Toán. - Lập kê hoạch và đề ra các biện pháp phụ đạo cụ thế, rõ ràng: khi lên lớp phải nghiên cứu kĩ mục tiêu bài dạy để đề ra phương pháp và hình thức dạy học thích hợp,giúp các em thích thú học tập và dễ tiếp thu bải. - Vận dung các phương pháp dạy học phù hợp với từng nhóm đối tượng học sinh. Đặc biệt, nếu học sinh bị hồng kiến thức từ lớp dưới thì giáo viên phải day lại nội dung đó vào các buổi học tăng cường hoặc trong ngay tiết học chính khóa để "lấp lỗ hồng kiến thức" cho học sinh. - Tổ chức các giờ dạy một cách linh hoạt, biết vận dung các trò chơi học tập để kích thích sự hứng thú của học sinh. - Tạo tinh thần học tập tốt, các em là người chủ động tham gia vào tiết học. - Động viên, khuyến khích HS đào sâu suy nghĩ, phát huy trí lực. - Sử dụng triệt để những đồ dùng dạy học khi dạy học toán; lôi cuốn, gây hứng thú cho HS đối với môn học này. - Xây dựng được tình cảm thân thiện giữa cô và trò. III.3.Phạm vi ảnh hưởng, khả năng áp dụng của sáng kiến: Sáng kiến có tính khả thi cao và có thể áp dụng rộng rãi cho giáo viên Tiểu học và học sinh các khối lớp ,các trường Tiểu học trong toàn huyện. III.4 Hiệu quả, lợi ích thu được từ sáng kiến: a. Hiệu quả kinh tế Khi vận dụng sáng kiến “Một số biện pháp phụ đạo học sinh yếu môn Toán 4 ” sẽ giúp cho chất lượng dạy học môn Toán của giáo viên được nâng cao. Học sinh sẽ phát triển được tư duy toán học, rèn kĩ năng cẩn thận chính xác và biết áp dụng kiến thức toán học vào công việc thực tế đạt hiệu quả cao. b. Hiệu quả về xã hội Việc học tốt môn Toán giúp các em bồi bổ thêm các kĩ năng, tư duy sáng tạo trong cuộc sống. Các em đã mạnh dạn và tự tin hơn khi tham gia vào các hoạt động tập thể... c. Giá trị làm lợi khác
- 9 Qua 6 tháng thực nghiệm ở lớp kết quả thu được khá tốt về mọi phương diện. Qua đợt kiểm tra chất lượng cuối học kỳ I học sinh lớp tôi tiến bộ hẳn lên. Chỉ còn có 2 học sinh đạt mức hoàn thành so vời 8 em hồi đầu năm, đặc biệt không còn học sinh yếu kém ; các em đã có sự tiến bộ vượt bậc. Học sinh khá giỏi cũng được nâng lên 60% so vơi đầu năm là 30,5 % . Việc áp dụng đề tài vào giảng dạy đã làm cho tình trạng học sinh yếu kém giảm đáng kể, học sinh càng ngày càng thích học môn toán hơn, các em hứng thú học tập, mến thầy, yêu bạn thích được học tập. Những biện pháp tôi vừa trình bày không phải quá xa lạ đối với chúng ta. Bất cứ ai cũng có thể hiểu và áp dụng được. Tuy vậy, trong thực tế không phải lúc nào đối tưọng học sinh yếu kém cũng đựơc giáo viên chú trọng nó đòi hỏi ở lương tâm người thầy, cần phải coi học sinh như chính những đứa con của mình .Khi những cố gắng của người giáo viên đạt kết quả tốt, được học sinh tin yêu. Đó mới chính là phần thưởng lớn nhất trong cuộc đời dạy học của mình. Do hạn chế về kiến thức, thời gian nên đề tài của tôi không thể tránh khỏi những thiếu sót, rất mong các đồng chí đồng nghiệp góp ý kiến để đề tài ngày càng hoàn thiện hơn. Xin chân thành cảm ơn các đồng nghiệp đã giúp đỡ tôi hoàn thành đề tài này . Tiên Lãng, ngày 24 tháng 01 năm 2025 CƠ QUAN ĐƠN VỊ TÁC GIẢ SÁNG KIẾN ÁP DỤNG SÁNG KIẾN Phạm Thị Giang

